Tuesday, October 19, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 30


- Kỳ 30 -


Làm ở đơn vị xây lắp một thời gian, lương không đủ sống mà lại thiếu thốn mọi bề , tôi xin nghỉ việc trở về nhà dạy kèm học trò lớp 5 . Nhà tôi, thực ra là khoảng đất còn trống sau nhà má – tôi xin má cất một ngôi nhà lá nhỏ để ở .Muốn vào nhà tôi, phải đi trong nhà má ( mấy cô em gái tôi đều ở nhà má ) vì xung quanh đều là nhà của người ta. Tôi dạy kèm khoảng 20 học sinh, cũng tạm lây lất qua ngày. Duy có điều rất buồn,( như tôi đã nói trong phần đầu Hồi ký ) mấy anh em tôi không biết thương nhau, nên suốt cuộc đời tôi không được sống bên má.
Học trò đến học , phải đi vào nhà má, các cô em gái tôi vui thì cho học trò đi, buồn thì “ ngăn sông cấm chợ “ không cho vào. Hiểu như vậy , nên gần tới giờ học , tôi ra ngoài đón học trò tôi . Có nhiều đêm ngồi lặng lẽ không ngủ được, càng suy nghĩ càng buồn thêm . Má già rồi , nhưng vẫn buôn bán ngoài chợ, tối mịt mới về . Tôi không bao giờ nói ra những gì mà các cô em gái cư xử với tôi cho má nghe, vì tôi sợ má buồn cảnh máu chảy mà ruột chẳng mềm . Tôi viết trong Hồi Ký những chuyện này không phải “ vạch áo cho người xem lưng “, tôi tôn trọng sự thật dù sự thật đó đau lòng cách mấy . Tôi không che đậy cái xấu bằng những ngôn từ hoa mỹ , giả dối- tôi không chấp nhận sống chung với những cái xấu , cái ác của con người . Ba tôi dạy tôi cách làm người qua chính cuộc đời của ba ; má dạy tôi lòng nhân ái , sống trung thực như chính cuộc đời cực khổ của má .Tôi không giận các cô em gái của tôi, người dưng tôi còn không giận huống chi ruột thịt của mình .

Một hôm, Liêu Tuyết Ngọc nói với tôi về làm kế toán cho Cửa Hàng Thu Mua Cá Xuất Khẩu sang Singapore do anh Tuyết Ngọc làm chủ . Liêu Tuyết Ngọc trong thời kỳ bao cấp , khi tôi làm Kế Toán Trưởng thì Tuyết Ngọc là kế toán phụ của tôi.Liêu Tuyết Ngọc rất thương tôi và mang ơn tôi đã cứu cô khi còn công tác ở HTX.MB nên khi anh ruột Liêu Tuyết Ngọc mở Cửa Hàng thì Tuyết Ngọc nói với anh cô cho tôi về làm kế toán. Tôi nhận lời làm kế toán cho Cửa Hàng, từ giã đám học trò nhỏ, khăn gói quần áo và chiếc xe đạp ( mua phân phối lúc tôi còn làm HTX.MB ) cà rịch cà tang lên ở Cửa Hàng cách nhà tôi khoảng 7,8 cây số.
Ban ngày thì công nhân của Cửa Hàng khoảng gần 20 người chuyên làm cá bẹ vàng ướp muối đem phơi khô . Sau vài nắng cá khô , thì họ cho vào thùng cạc tông đóng lại và đưa lên Sài Gòn lđể những người trên đó làm thủ tục hải quan , xuống tàu đưa qua Singapore. Ban đêm chỉ còn mình tôi ngủ ở Cửa Hàng .
Cửa Hàng nằm sát bờ sông để các chiếc vỏ lải từ các huyện chở cá bán. Thỉnh thoảng tôi đạp xe về thăm má. Cuối cùng rồi tôi cũng không được ở chung với má, có lẽ định mệnh không cho tôi sống cùng những người ruột thịt của mình . Tôi ôn lại quãng đời mình , từ nhỏ cũng đã cực lắm , lớn lên cầm súng ra mặt trận , rồi tù đày lên núi đập đá cũng cực lắm . Làm tiện dân cũng cực , nhưng tôi vốn quen cực khổ từ nhỏ nên tôi không buồn vì mình cực khổ , hay lận đận, gian nan mà tôi gánh chịu . Tôi chỉ tủi thân , tôi có nhà mà không được về nhà , có má mà không được ở với má cho đến ngày má bị bệnh ung thư ,xuôi tay nhắm mắt . Lúc má bệnh , chờ qua khỏi kiếp làm người , má đau đớn vì cơn bệnh hành hạ má – má nói : Có lẽ kiếp trước má làm điều gì tội lỗi lắm, kiếp này má đau đớn như thế này .


Cha đã vào nơi thiên cổ
Mẹ chờ qua khỏi kiếp người
Tôi nương theo mùa gió thổi
Về nhà đốt nén nhang thơm
Xa quê gần chục năm hơn
Biết mẹ một mình dõi bóng
Tựa cửa mõi mòn trông ngóng
Cánh chim phiêu bạt giang hồ
Tôi đi cho hết cuộc đời
Khổ đau bên trời viễn xứ
Mẹ chờ qua khỏi kiếp người
Theo cha vào nơi thiên cổ

( Mẹ chờ qua khỏi kiếp người )

Má chết , tôi hiểu từ nay mình đã mồ côi cha lẫn mẹ - tôi hiểu từ nay mình lo cho chính cuộc đời mình . Ngày về giỗ má, tôi không sao nén được nước mắt khi nhìn mộ của má. Nước mắt , nước mưa hòa quyện vào nhau cho tôi thấm thía kiếp nhân sinh .


Ngày về
hôm ấy mưa tuôn
Sình non
lặng lẽ dưới bàn chân ta
Gọi đò
đò mãi chưa qua
Dòng sông từ đó
như xa ngút ngàn
Ta đi
gần hết con đường
Mà sao lận đận
vẫn còn níu chân
Ngày về
đồng lúa trổ bông
Cha nằm yên ngủ
mẹ không đợi chờ
Mới hay
ta đã mồ côi
Quê mình
mình đứng
khóc cười
mình ên

( Ngày về ta mới biết mình mồ côi )

Đời người như giấc mộng, thoáng đó rồi mất đó . Hôm nay, tôi còn ngồi viết những dòng Hồi ký, tôi còn thương yêu hồng nhan tri kỷ của mình ở tận góc bể chân trời . Tôi còn nhớ nhung, còn biết tôi đau đớn hay hạnh phúc với tình yêu của tôi .Tôi còn có những bạn bè, thân thiết , lo lắng khi bệnh hoạn , ốm đau . Tôi còn làm những bài thơ tình nồng nàn như thời trai tuổi trẻ . Bởi trái tim thơ mãi mãi ở tuổi đôi mươi bướm hoa mơ mộng .Tuổi đôi mươi mà ngày xưa tôi đã đánh mất trong cuộc chiến tranh bi thảm của đất nước và dân tộc. Cuộc chiến tranh đã cắt lìa hai cuộc đời của tôi và người xưa ,phải hơn 30 năm mới tìm lại được nhau. Cắt lìa , nhưng không phải là sự chia ly – hai cuộc đời của chúng tôi không có cuộc chia ly , không hề có cuộc chia ly dù có đầm đìa nước mắt .

Trước chiến tranh em ru anh khi ngực khuyết chưa tròn
Cau non vừa chơm chớm nhú
À ơ…à ơ…giấc ngủ
Cho anh được sống để làm người
Quê hương hai mươi năm khói lửa mịt mờ
Nuôi anh lớn lên bằng bom đạn
Nuôi anh lớn lên anh ra mặt trận
Em cười buồn tiễn đưa

Hạt lệ khô bao mùa
Mặn môi lời ru nước mắt
Em ơi ! Ở chỗ nào xa khuất
Em có khoẻ không ?
Em ăn cơm có ngon không ?
Và bầu trời đêm nay -đêm mai hỏa châu hồng
Soi bước anh ngàn dặm
Lòng vỡ vụn sợ vầng trăng khuya mòn mõi chít khăn tang

Anh ngủ ngoan - để em ru bao lần
Biết người đi không còn đường quay trở lại
Ôi cánh tay nào mềm mại
Anh gối đầu bên em
Sao chúng mình chẳng được giây phút bình yên
Để môi tìm môi thơm nồng rịn máu
Ngập tràn dấu răng yêu dấu
Của nhau…của nhau

Câu thơ vụng dại mấy mươi năm vẫn nhói đau
Nụ hôn đầu từ biệt
Buổi sớm mai nắng hè da diết
Sài Gòn dan díu cùng gió-cùng mây xô giạt đời anh không về
Đời em không về
Mấy mươi năm xương tàn cốt rụi
Tiếng ru chết giữa giấc mơ cát bụi
Chúng ta sống chưa trọn kiếp người

Chiến tranh qua lâu rồi
Mấy mươi năm vết thương anh buốt nhức
Vết thương thời loạn lạc
Mang mầm mống bệnh ung thư
À ơ…à ơ…anh ru
Biết người đi quên đường quay trở lại thị thành
Khép mắt lúc còn xanh- tóc rối lúc còn xanh
Nhớ mùi em xưa -anh thầm khóc một mình
Một mình
Một mình

( Vết thương thời loạn lạc )

Xin đừng trách tôi sống nhiều cho quá khứ của một mối tình , tôi không thể tách rời mối tình quá khứ đó ra khỏi hiện tại . Vì mối tình quá khứ đau thương này gắn liền với cuộc chiến tranh mà tôi và người xưa phải gian nan vượt qua. Một người con gái đã phải “ …Đeo nhẫn đính hôn nhưng không bao giờ làm đám cưới…” suốt bảy năm trời , như câu thơ trong tập thơ Kỷ Vật Cho Em tôi đã viết.

Hôm nay tôi còn ngồi ôn lại một phần đời của mình , nhưng biết đâu một chút nữa thôi , hay ngày mai , ngày mốt – bất chợt trái tim lúc nào cũng đầy ắp thương yêu của tôi sẽ ngừng đập . Lúc ấy, có ai khóc cho tôi không ? Điều đó, đã không còn quan trọng nữa rồi, vì chết là hết- là về nơi mình từ đó đã ra đi .

( còn nữa )

Wednesday, October 13, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 29 -


- Kỳ 29 -


Khoảng đầu thập niên 80, tôi gặp lại vợ chồng Mạc Phong Vân và Lâm Băng Thủy . Lâm Băng Thủy một thời là cây viết có bài thường xuyên trên tờ tuần bào Phụ Nữ Diễn Đàn. Gia đình hai vợ chồng không được ổn định lắm , Mạc Phong Vân nuôi cá lia thia để bán , còn Lâm Băng Thủy nuôi heo . Thỉnh thoảng, tôi ghé nhà hai vợ chồng chén tạc chén thù , ôn lại chuyện văn nghệ ngày xưa. Giữa thập niên 80, tôi và Vũ Trọng Quang, Nguyễn Mộng Hòa Bình biết được tin tức nhau sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975. Lúc này, Quang có một cuộc sống khá sung túc , hùn hạp cùng một người bạn làm chủ quán Trống Đồng trong công viên Tao Đàn . Nguyễn Mộng Hòa Bình thì vất vả hơn , có một chỗ nho nhỏ bán đồ nhậu bình dân cũng tạm đủ sống .Còn tôi thì phải “ di tản chiến thuật “ vào một huyện vùng sâu làm kế toán trưởng một đơn vị xây lắp huyện để kiếm sống qua ngày, sau trận bị người ta hè nhau “ đánh hội đồng “ không thương tiếc

Cơ quan chỉ có tôi và một cô thủ quỹ tên Nhiên , đêm cũng như ngày làm kẻ “ giữ chùa . Chiều chiều nhìn ra bờ sông, những chiếc vỏ lải xuôi ngược chạy ngang , lòng buồn muốn chảy nước mắt.Nhớ hôm gặp người bạn một thời cùng chung chiến hào, ngồi nhậu với nhau , ôn lại quãng đời khói lửa đã trôi qua, nước mắt cứ chảy ròng ròng .Cuộc đời bạn cũng lận đận , khó khăn phải bán vé số nuôi một gia đình một vợ ba con. Bạn cũng khổ như tất cả anh em còn lại sau cuộc bể dâu – tuổi trẻ của những người sinh ra , lớn lên ở thế hệ chúng tôi đều bị chiến tranh tàn khốc cướp mất tuổi thanh xuân của mình . Chúng tôi từ giã tuổi học trò , từ giã giảng đường cầm súng vào cuộc chiến bằng một tấm lòng nhân bản không biết hận thù ..


Gặp bạn ngã ba sông chợ họp
Xuồng tiếp xuồng-ghe đậu sát ghe
Hàn huyên chờ lúc mưa tạnh hột
Ta đứng lên từ giã ra về

Bạn níu tay chẳng cho rời bước
Mấy chục năm trời mới gặp nhau
Mồi sẵn rượu ngon ta bày cuộc
Lai rai đánh trận giải cơn sầu

Uống hơn nửa lít bạn bật khóc
Nhắc chuyện ngày xưa-chuyện bây giờ
Góc núi-đầu non-đầy ký ức
Binh lửa mờ mờ trong giấc mơ

Hề chi-quá khứ thời trai trẻ
Mộng nuôi chí lớn luận anh hùng
Vạch kiếm ngang trời ta ngạo nghễ
Hào sảng cười khà chốn ba quân

Nhớ khi hai đứa ngồi quán cóc
Mua gói mì tôm nhậu ngon lành
Chừng ba xị đế. Bạn cà gật
Chỉ mình ta độc ẩm một mình

Mà thôi, quên hết đi bạn nhé !
Chớ để bận lòng đau thắt gan
Thời thế-thế thời-thời phải thế
Hảo hán ta vui với ruộng đồng

Dzô dzô trăm phần trăm nốc cạn
Mừng người biệt xứ bạc tóc xanh
Sông nước còn thương đời lận đận
Thì nói chi câu tống biệt hành

Bên kia tràm-đước-xanh ngút mắt
Rừng chắc chạy dài cuối chân mây
Chiều nghiêng vạt nắng buồn hiu hắt
Rơi xuống môi mềm chưa biết say

Dzô dzô trăm phần trăm nốc cạn
Đừng nói lan man chuyện tầm phào
Chơi hết hôm nay bên bầu bạn
Mai mốt ta về quê cắm câu

( Gặp bạn ở ngã ba sông )


Thời gian này , tôi gặp lại bạn tôi là ký giả Phan Bảo Quân khi đoàn cải lương Sài Gòn 3 lưu diễn Cà Mau ( Phan Bảo Quân lúc đó là Phó đoàn ).Phan Bảo Quân đưa cho tôi tấm giấy mời xem hát , tôi cười vì có khi nào tôi đi xem hát cải lương vì tôi không thích , dù tôi là người Nam bộ.Hai thằng kéo nhau đi nhậu một trận đả đời mừng ngày gặp lại.

Liên lạc được với nhau rồi, lâu lâu Vũ Trọng Quang lại nhắn tôi lên Sài Gòn chơi , biềt tôi đang vất vả chuyện áo cơm , nên lần nào Quang cũng lo tất cả tiền bạc cho tôi đi về .Lần đầu tiên trở lại Sài Gòn, tôi thấy mình thật quê mùa trước sự thay đổi và cách sống của những người Sài Gòn bây giờ .Vô nhà hàng gặp Ba Phong -người bạn cũ ( là Chủ tịch UBND một Phường , trong những phường trung tâm Sài Gòn ) mà trong lòng cứ mang mặc cảm mình nghèo , quê mùa trước sự xa hoa của nơi đây. Tôi thấy tội nghiệp cho chính mình khi uống một ly rượu đắt tiền hay uống những chai bia ở nhà hàng sang trọng .
VTQ chở tôi đến tìm một người bạn cũ mà ngày xưa thường đến nhà tôi ăn cơm hàng ngày, thuở hàn vi hai đứa làm chung một tờ tuần báo .Người bạn đang sống vẫnnbằng nghề báo ( tôi không nêu tên ), nhà lấu đường Lê Hồng Phong rất giàu .Bạn tiếp tôi một cách miễn cưỡng chắc bạn nghĩ tôi đền nhờ vả bạn tiền bạc hay gì đó . Nói chuyện qua loa , tôi tữ giã bạn ra về . Tôi buồn lắm , mình mất một người bạn thân cũng vì cái nghèo . Từ đó, tôi không liên lạc với bạn, dù có đôi lần bạn nhắn để gặp tôi.Có lần , tôi tìm gặp lại người bạn thân trước làm ký giả tờ báo Mỹ SaiGon Daily New , gặp bạn mừng lắm, nhưng bạn lại tiếp tôi một cách lạt lẻo . Sau này , tôi biết bạn đang làm việc cho Chính quyền mới, bạn sợ có liên hệ với người của chính quyền cũ như tôi . Thì ra, tôi vô tình làm phiền bạn tôi rồi .Mất thêm người bạn nữa , cũng tại tôi không phân biệt được tôi đang đứng ở vị trí nào trong cuộc sống vốn không còn là của những người.muôn năm cũ
Chơi với bạn, tôi bao giờ cũng sợ làm bạn mình buồn – nên lúc nào tôi cũng ít khi tranh luận với bạn hoặc bạn nói nặng –tôi vẫn cười hề hề để bạn hết giận mình . Tôi cũng không biết thù hận một ai, dù người đó hết lần này đến lần khác tìm cơ hội hại mình . Qua bao tai nạn dồn dập , có khi gần đặt chân vào ngưỡng cửa nhà giam thì có người giúp đỡ . Nhà văn N. M.P. thường nói với bạn bè văn nghệ trong những khi trà dư tửu hậu rằng : “ Tôi phục ông Linh Phương không biết thù hận là gì. Tôi chơi với ông một phần là ông có một nhân cách lớn “ . Tôi cười, người bạn nhà văn nói quá về tôi thôi . Thực ra tôi chỉ muốn trở thành một người đàng hoàng giữa cuộc sống có nhiều con người vốn không tử tế cư xử đối với nhau. Tôi muốn tin cuộc đời này , con người này sống là để thương yêu nhau, tha thứ cho nhau những lầm lỗi, chứ không phải dùng mọi thủ đoạn để triệt hạ nhau vì danh lợi, tiền tài mà đánh mất trái tim người.

( còn nữa )

Sunday, October 10, 2010

Hồi Ký Linh Phương - kỳ 28 -


-Kỳ 28 -


Tôi có nhiều mối tình trong cuộc đời, nhưng chỉ duy nhất một mối tình tôi thực sự được yêu , yêu không bao giờ quên được- đó là tình yêu giữa tôi và Thu Hồng .Như tôi đã viết, tôi có hai người hồng nhan tri kỷ : - một người tôi nợ một mối tình là Thu Hồng ; một người tôi nợ một ân tình là Dạ Hương.Cả hai người đều xa tôi nửa vòng trái đất , nhưng có vị trí một riêng biệt trong lòng tôi , không so sánh được. Có thể Dạ Hương hay bất cứ người phụ nữ nào đều cho rằng tôi tham lam, đa mang chữ tình . Riêng Thu Hồng thì không – em là người hiểu rất hiểu tại sao tôi có hai hồng nhan tri kỷ . Nếu đời người là 60 năm thì tình yêu của Thu Hồng và tôi đã chia cắt hơn nửa đời người – nửa đời người vẫn thương yêu như ngày mới gặp nhau , thì làm sao Thu Hồng không hiểu được tấm lòng của Linh Phương . Chính vì thế , mà qua cuộc bể dâu, hơn nửa đời người chúng tôi biền biệt chia cắt . Tất cả đều trôi đi , thời thanh xuân của hai chúng tôi trôi đi- nhưng tình yêu vẫn còn ở lại . Tình yêu chúng tôi là sợi khói, như Thu Hồng đã nói : “ Em ở một đầu sợi khói , anh ở một đầu sợi khói . Nhưng mãi mãi sợi khói sẽ không bao giờ tan” . Vâng ! Không bao giờ tan trong trái tim của mỗi người chúng tôi..

Tôi nhớ lại thập niên 80, mỗi lần có dịp lên Sài Gòn , tôi đều đi ngang con đường Lê Văn Duyệt , mong mỏi gặp lại Thu Hồng, nhưng bóng chim tăm cá vẫn biền biệt theo thời gian. Ngược lại, Thu Hồng cũng nhờ Trần Công Thành là em trai của mình xuống Cà Mau tìm tôi .Tôi và Thu Hồng cứ tìm nhau, tìm nhau mà không .Cuối cùng rồi sau hơn 30 năm, Thu Hồng và tôi đã tìm được nhau. Hơn 30 năm, tôi cứ đau đáu mỗi lần nghĩ đến chuyện ngày xưa …ngày xưa , tôi đã không chìa bàn tay ra để kéo em về phía tôi. Sau bảy năm chờ đợi, em đành gạt lệ lấy chồng. Chúng tôi không ai phụ tình ai, không ai oán trách ai – đó là hệ lụy của cuộc chiến tranh Việt Nam . Không phải riêng chúng tôi thất lạc nhau, mà có hàng ngàn, hàng vạn cuộc chia ly giữa bốn bề đao binh. Nhưng hai chúng tôi vẫn nghĩ rằng chúng tôi chưa hề có cuộc chia ly.

Bây giờ chúng tôi đã tìm được nhau, mừng vui –nhưng đầy nước mắt, tìm được nhau những vẫn xa nhau vời vợi , không phải vì địa lý xa nửa vòng trái đất mà là chúng tôi mỗi người đều có cuộc đời riêng dù cuộc đời riêng của chúng tôi khổ đau hay hạnh phúc . Có những thứ có thể lành lại theo thời gian, nhưng cũng có vết thương suốt đời không thể liền da.


Ba mươi năm vạt nắng
Trên vai áo tiểu thư
Vẫn mơ ngày mùa thu
Mà thương hoài người cũ

Anh đi vào giấc ngủ
Ba mươi năm rã rời
Ba mươi năm đau khổ
Buồn hóa kiếp thành thơ

Hồng nhan tri kỷ ơi !
Trái tim anh bật máu
Suốt một thời binh đao
Tìm em- em mất biệt

Ba mươi năm da diết
Ba mươi năm bây giờ
Gặp nhau hết nửa đời
Đầu đôi ta chớm bạc

Chỉ còn là nước mắt
Khi thầm gọi tên nhau
Ừ ! Thì thôi chôn chặt
Xa xưa mối tình sâu

Như nước chảy qua cầu
Như hoa trôi bèo giạt
Ba mươi năm thất lạc
Mộng tàn theo khói bay

( Ba mươi năm chỉ còn là nước mắt )

Lần đầu tiên, ngày ấy sinh nhật 06.02. cách đây hơn 30 năm thật hạnh phúc trong tình yêu của người hồng nhan tri kỷ. Và.cũng lần đầu tiên ngày Valentine tôi làm cùng lúc 2 bài thơ tặng cho hai người hồng nhan tri kỷ mà tôi thương yêu. Thực ra, ngày nào cũng là ngày sinh nhật- ngày nào cũng là ngày Valentine. Vì tình yêu chính là lễ hội, sinh nhật đánh dấu một ngày trong đời sống của mỗi con người. Mà đời sống nếu không mở rộng lòng thì sẽ không bao giờ hiểu được cái tận cùng của thương yêu . Con người thực sự vĩ đại khi đã mở rộng lòng mình , không ích kỷ , hẹp hòi – yêu một người phải biết hy sinh cho người mình thương yêu.
Tôi hãnh diện vì đã có người hồng nhan tri kỷ không biết so đo , ganh tị như những người phụ nữ khác. Người hồng nhan của Linh Phương lớn hơn cái nhỏ bé thường tình của phụ nữ. Trân trọng tôi, trân trọng những gì tôi trân trọng. Người xưa hay hiện tại đều là máu luân lưu nuôi sống cơ thể tôi, đều chảy về trái tim tôi, cho tôi sống để làm thơ ca ngợi tình yêu vĩnh cửu của con người.

Hơn 30 năm trước, tóc tôi còn xanh – hơn ba mươi năm sau, đầu tôi lốm đốm bạc. Tôi muốn níu lại thời gian ngày tôi và Thu Hồng đến với nhau như là một định mệnh.Tôi đã đi vào cuộc đời em bằng Kỷ Vật Cho Em , bằng những bài thơ tình thời thanh niên ngang tàng đầy khí phách ( cũng như với Dạ Hương yêu nhau bằng những câu thơ ), và đời em đã theo tôi nổi chìm qua cuộc bể dâu. Hơn 30 năm xa nhau, tôi tưởng như không có sự cách biệt ngần đó thương nhớ về nhau. Tôi trân quý Thu Hồng bởi tâm hồn em biết cảm nhận một tình yêu lớn. Em nói : “ Anh là nhà thơ – là nghệ sĩ luôn hướng đến cái đẹp của cuộc đời, của con người . Yêu anh, em không bao giờ quan tâm trong thơ anh đề tặng cho người phụ nữ nào. Vì mỗi người phụ nữ có cái đẹp riêng của họ, họ chính là cảm xúc để anh viết thành thơ. Nếu không có cảm xúc, thì người thi sĩ sẽ chẳng có bài thơ hay. Cũng như, nếu Linh Phương không có cảm xúc trung thực về cuộc chiến tranh, thì Linh Phương sẽ không có Kỷ Vật Cho Em Và điều làm tôi cảm động , nhớ mãi trong cuộc đời Linh Phương cho đến khi Linh Phương xuôi tay nhắm mắt , là câu nói của hồng nhan tri kỷ Thu Hồng , tôi không viết ra đây mà tôi khắc sâu vào trái tim thơ của mình .





Tôi chỉ mong mỏi những người tôi thương yêu, khi tôi đặt trái tim mình vào lồng ngực của người hồng nhan đều mang một tấm lòng bao dung, để yêu nhau hơn. Bởi trong cuộc đời này , không có gì tồn tại ngoài tình yêu. Nếu một ngày nào đó , trái tim thơ của Linh Phương ngừng đập, dù ở một nơi cách xa nửa vòng trái đất, xin hồng nhan tri kỷ của Linh Phương hãy nhớ đặt một bông cúc vàng giữa trái tim mình và nói rằng : “ Anh Linh Phương ơi ! Hãy để lại những khổ đau mà anh đa mang trên thế gian này mà ra đi thật thanh thanh thản anh nhé ! “

Mong mỏi, nhưng chưa chắc vì thành hiện thực. Thế nào đi nữa thì tôi cũng xin cám ơn cuộc đời này cho tôi có hai người tri kỷ .. Dù mai kia mốt nọ với lý do nào đó không được trọn vẹn như tôi mong mỏi thì tôi cũng xin lỗi những người tôi thương yêu , để tôi được nhẹ lòng nếu tôi ra đi bất chợt một hôm nào đó mà không kịp nhắn nhủ đôi lời . Và tôi tâm nguyện – một ngày còn sống là một ngày tôi sống để thương yêu cuộc đời , thương yêu con người đã thương yêu tôi
.


( còn nữa )

Tuesday, October 5, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 27 -


- Kỳ 27 -


Thời kỳ tôi làm Kế Toán Trưởng HTX.MB. là thời kỳ cải tạo công thương nghiệp tư doanh . Tất cả các ngành hàng tư nhân buôn bán đều phải chịu sự quản lý của HTX.MB. Lúc đó , HTX.MB của tôi ngoài những Cửa Hàng chính gồm : Cửa Hàng Bách Hóa Tổng Hợp, Cửa Hàng Nông Sản Thực Phẩm Tươi Sống, Cơ sở sản xuất đường ly tâm, Cửa hàng ăn uống…ngoài lồng chợ còn có 2 Quày hàng Bách Hóa, 2 Quày hàng nước mắm, 2 quày hàng mỹ phẩm và 2 quày hàng bán vải .Trong HTX.MB toàn là nhân viên nữ, trừ Chủ nhiệm , hai P. Chủ nhiệm và tôi là nam , lại trẻ nên rốt cuộc tôi vẫn phải chịu cảnh “ gươm lạc giữa rừng hoa “.
Tôi là người bén nhạy và sắc sảo, nên nhân viên HTX.MB cũng như các quày hàng tư nhân rất sợ khi thấy bóng dáng của tôi . Gần 200 mặt hàng bách hóa trong một quày hàng , tôi chỉ nhìn sơ qua tôi có thể phát hiện họ làm ăn gian dối như mua cùng mặt hàng giống nhau đem vào quày hàng của mình, bán ra lấy tiền lãi cho vào túi mình . Hoặc quày hàng mỹ phẩm , vải vóc , họ bán ra một số lượng hàng lớn, đem vào một số lượng hàng tương đương cùng chủng loại để rút tiền lãi bỏ túi riêng .
Đối với tư nhân , thường thì tôi bỏ qua dù biết họ gian dối, vì tôi hiểu nếu như họ làm ăn trung thực thì họ sẽ không sống nổi dưới sự quản lý của HTX.MB. thời bao cấp. Nhưng đối với nhân viên HTX.MB thì tôi rất nghiêm khắc. Bất chợt , tôi nghi ngờ Cửa hàng nào, quày hàng nào thì tôi ra lệnh ngưng bán để kiểm kê hàng hóa. Thủ quỹ của văn phòng HTX.MB cũng vậy, tôi cũng hay kiểm quỹ đột xuất nếu có điều gì đó tôi nghi ngờ .Trong số những nhân viên bán hàng có người là vợ Bí thư phường, có người vợ của Chủ nhiệm HTX.MB, có người em vợ của Chủ tịch phường, tôi không kiêng nễ bất cứ ai , thành thử tôi không được lòng những chức sắc này.Và tôi đã tố cáo những vị Chủ nhiệm HTX.MB. tham ô tiền của HTX.MB khiến cho họ mất chức. Cuối cùng , họ lại bố trí vị Chủ nhiệm đầu tiên quay lại làm Chủ nhiệm HTX.MB . như cũ . Chính vì thế, mà sau này ( khoảng năm 1986-1988 )họ xúm nhau lại “ đánh hội đồng “ tôi không thương tiếc, khi họ ra Quyết định kỷ luật cho tôi thôi việc vì vấn đề tài chính. Sau đó, đoàn thanh tra Tỉnh xuống thanh tra tài chính , tôi không có gì sai sót , họ lại hủy Quyết định đó thay bằng Quyết định kỷ luật khác cho tôi thôi việc với lý do : lý lịch không rõ ràng , mặc dù họ đã lên Sài Gòn xác minh lý lịch của tôi .
Lúc ấy , báo Minh Hải ( bây giờ là báo Cà Mau ) đã có 6 kỳ báo liên tiếp bênh vực tôi, nên họ phải ra công văn bố trí lại công tác cho tôi.Nhưng công văn là như vậy, còn thực tế họ cứ cù cưa, khiến tôi phải bỏ xứ ra đi tìm cách sống để tự cứu mình . Những ngày gian nan , cùng cực tôi đã làm bài thơ “ Đã có một thời để có một ngày “ nói lên tâm trạng của mình, đăng trên trang nhất tờ Văn nghệ Minh Hải , số 5 ( 43 ) tháng 03/1988 với tên Đoàn Văn Nhơn cùng với bài thơ của Trần Mạnh Hảo và Đỗ Trung Quân.



Đã có một thời mừng vui-giận ghét
Những nhỏ nhoi-ích kỹ- tị hiềm
Tháng năm nào tôi đâu ghi hết
Nhưng có một thời tôi đâu dễ gì quên

Đã có một thời nằm trong bóng tối
Tôi mơ hồ ray rứt khôn nguôi
( như lý lịch của mình chưa được rõ )
Tôi ngoi lên từ chỗ làm người

Đã có một thời tôi tức bực
Vì hung hăng không chịu sống thấp hèn
Chống tham ô vạch trần tiêu cực
Đã một thời tôi đâu thể nào quên

Để có một ngày tôi thôi việc
Lòng đau như ruột cắp phân lìa
Mười năm- bây giờ tôi mới biết
( Mở mắt mình sau giấc ngủ khuya


Khoảng năm 1986, Việt Nam có một trào lưu đổi mới do ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh khởi xướng . Bộ mặt văn học cũng theo đó được cởi trói , không còn bị bắt buộc là một thứ văn học tuyên truyền cho chính sách, chủ trương . Tôi bắt đầu làm thơ trở lại , và những bài thơ đầu tiên tôi gửi cộng tác cho tờ Văn nghệ Minh Hải ( lúc này nhà thơ Nguyễn Trọng Tín là Tổng biên tập ).Theo như lá thư của nhà thơ Phù Sa Lộc gửi cho tôi , có viết : Nguyễn Trọng Tín đem những bài thơ của tôi đưa cho nhà thơ Lê Chí ( Giám đốc Nhà xuất bản Mũi Cà Mau ) và nói là có một cộng tác viên mới làm thơ gửi cộng tác , thơ hay quá . Nhà thơ Lê Chí xem xong , phán một câu :” thơ này thuộc loại bậc thầy , chứ không phải mới làm thơ đâu”. Tôi nhớ không lầm thì khoảng năm 1987 , 1998 gì đó, nhà văn Nguyễn Thanh Chủ tịch Hội VHNT Minh Hải nói tôi viết lý lịch trích ngang và một lá đơn xin vào Hội VHNT . Tỉnh Minh Hải . Sau đó, tôi tham dự Trại sáng tác Văn học do Hội tổ chức. Trước ngày bế mạc Trại sáng tác- nhà văn Nguyễn Thanh nói với tôi viết một bản tham luận để đọc hôm bế mạc ( vì tôi cùng Phan Thanh Lệ Hằng – Trưởng đài truyền thanh Thị xã Cà Mau là đại diện trại viên ) . Hôm lễ bế mạc trại sáng tác ,nhà văn Nguyễn Thanh có đọc danh sách Hội viên Hội VHNT mới kết nạp , trong đó có tôi ( Năm 2008,2009 khi tôi bị hoạn nạn vì một số bài thơ trên các website ở hải ngoại , thì nhà văn Nguyễn Thanh đã phủ nhận việc tôi là hội viên Hội VHNT. Tỉnh Minh Hải. Tôi không buồn, không trách về chuyện này , tôi nghĩ là ông phải “ bỏ của chạy lấy người “ thôi ).

Đó chỉ là 50 % những việc xảy ra trong cuộc đời tôi , nếu viết hết sự thật thì e rằng tôi tự làm khó cho bản thân mình rồi. Thôi thì, cũng nên có một chút cái hèn cho cuộc sống vốn không bình yên của tôi . Tôi cố gắng làm một con người tốt- một con người tử tế nhưng thật là khó, vì cái xấu, cái ác cứ nhan nhãn chung quanh. Nhiều lúc suy nghĩ con đường gian truân tôi đã đi qua, từ nhỏ tới khi lớn lên vào quân đội, rồi đi học tập cải tạo cho đến bây giờ- cuộc sống không được suông sẻ , con đường tình cũng lận đận như phần đời của mình .Tôi không được làm người tử tế dù muốn làm người tử tế . Tôi thường tự hỏi với chính mình : chẳng lẽ làm người tử tế lại khó thế ư ?
Tôi cảm thấy mình bất lực , bất tài khi sắp hết cuộc đời rồi – tương lai , sự nghiệp cũng chỉ là hai bàn tay trắng . Ngày qua ngày , tháng qua tháng , năm qua năm , tôi sống như loài chùm gởi chờ ngày hóa kiếp. Cắn răng mà sống với cái đau của chính mình, rồi tự an ủi với chính mình rằng đó là định mệnh của tôi .


( còn nữa )

Tuesday, September 28, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 26 -


- Kỳ 26 -


Tôi nhớ cách đây vài năm, có một người phụ nữ ở Sài Gòn gọi phone cho tôi, hỏi: “Hồi Mậu Thân anh có ra Huế và quen với một người con gái , sau đó, thì thất lạc nhau trong cuộc chiến tranh. Bây giờ biết được tin anh, không biết có đúng chăng ?”. Tôi cười :” Anh ấy người miền nào ?” Cô nói: ” là dân Hải Phòng” .” Vậy là không phải đâu, cô tìm lầm người rồi, tôi là dân Nam bộ”. Tôi kể cho bạn tôi là nhà thơ Vũ Trọng Quang ở Sài Gòn nghe. Vũ Trọng Quang cất công tìm trên danh bạ điện thoại thì được biết tên cô là Hoàng Thị Kim Cúc nhà ở đường….Sài Gòn.Thỉnh thoảng lại có những cú phone chưa hề quen thăm hỏi, tỏ lòng ái mộ rồi đích thân hát hoặc trên dĩa CD qua điện thoại di động bản “Kỷ Vật Cho Em” cho tôi nghe. Nhiều người gặp ,biết tôi là tác giả bài thơ KVCE , họ rất mừng , vì cho đến bây giờ họ mới gặp được tác giả bài thơ bằng xương bằng thịt mà họ yêu mến.Tôi rất cảm động về những người bạn xa lạ đó, về những tình cảm suốt mấy mươi năm trôi qua vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của họ, như mới ngày hôm qua đây thôi. Đó là niềm vui sau cuộc bể dâu đời người tôi đã trải qua. Ngược lại , nỗi buồn , buồn tận cùng cũng không ít . Cứ nhớ là đau thốn ruột gan trước sự biến thiên của tạo hóa, trước tình người , tình đời thay đổi
Cuối năm 2005, tôi và ký giả Thiện Mộc Lan – người phỏng vấn tôi 4 kỳ báo trên nhật báo Đuốc Nhà Nam năm 1971 biết được tin tức của nhau kể từ sau 1975 . Anh Thiện Mộc Lan đã gửi cho tôi những dòng sau hơn 30 năm xa cách .

“ …Tôi quen với nhà thơ Linh Phương từ năm 1971, lúc anh đang ở đỉnh cao danh vọng, và tôi là một ký giả của nhật báo Đuốc Nhà Nam tìm đến địa chỉ do nhạc sĩ Phạm Duy cung cấp để làm một loạt bài phỏng vấn Linh Phương. Riêng nhạc sĩ Phạm Duy, đã có lần tâm sự : " Với chiến tranh Việt Nam, tôi đã ba lần viết về hòa bình qua 3 tác phẩm Nhớ Người Thương Binh, Ngày Trở Về và Kỷ Vật Cho Em".

Sau năm 1975, Linh Phương và tôi lạc mất nhau. Qua bao thăng trầm, mỗi người một số phận, anh em vẫn nhớ nhau nhưng không có cách nào biết được tin tức của nhau. Tôi thì từ giã làng báo Sài Gòn, trở về quê nhà ở Tỉnh Đồng Tháp hòa nhịp cùng cuộc sống mới. Trên 30 năm, tưởng không bao giờ còn gặp lại Linh Phương, nào ngờ…cuối năm 2005 nhờ ký giả Phan Bảo Quân báo Sân Khấu Truyền Hình ( hiện ở Sài Gòn -người viết bài về nhà thơ Linh Phương tác giả Kỷ Vật Cho Em và việc nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ ) chúng tôi đã liên lạc được nhau.

Lá thư đầu tiên sau bao năm " bặt vô âm tín ", nét chữ của Linh Phương vẫn đẹp và bay bướm như hồi năm 1971 , anh viết tay bài thơ Kỷ Vật Cho Em tặng tôi - Thiện Mộc Lan
.
Từ thập niên 70, Linh Phương đã nổi tiếng là nhà thơ trẻ có nhiều " huyền thoại ". Đông đảo các trang báo Sài Gòn lúc bấy giờ tốn khá nhiều giấy mực để viết về Linh Phương với những mảnh đời khá thú vị. Ba mươi mấy năm trước , Linh Phương là một đề tài sôi động , rồi ba mươi mấy năm sau Linh Phương vẫn sôi động .
THIỆN MỘC LAN
( ký giả báo Đuốc Nhà Nam- Quật Cường- Độc Lập trước năm 1975 )

Như anh Thiện Mộc Lan nói, thật kỳ lạ - chỉ có bài thơ Kỷ Vật Cho Em thôi mà cuộc đời tôi nhiều gian nan, và cũng xảy ra nhiều đề tài sôi động . Mấy chục năm trôi qua, Kỷ Vật Cho Em vẫn không đi vào lãng quên trong ký ức mọi người . Tôi gian nan vì bên kia cho rằng tôi là tâm lý chiến làm thơ cho Phạm Duy phổ nhạc chống phá cách mạng . Bên này thì cho rằng phản chiến , làm băng hoại hàng ngũ QLVNCH . Tôi chông chênh giữa hai lằn đạn , không biết mình thuộc thành phần nào , có công hay có tội với đât nước này . Mà thế nào đi nữa thì lý lịch tôi cũng đen ngòm mất rồi . Muốn làm một tiện dân , muốn sống làm một con người tử tế cũng là rất khó khăn đối với tôi .
Cho đến bây giờ, Kỷ Vật Cho Em vẫn còn sôi động , vẫn còn được nhắc nhở như một bài thơ kinh điển nói về chiến tranh Việt Nam. Kinh điển vì bài thơ nói về chiến tranh được phổ thành nhạc khúc vẫn bất tử trong lòng những người yêu thơ , yêu nhạc xa xưa , dù chiến tranh ngày ấy đã xa dần . Trong bài viết “ Hoài niệm về bài hát Kỷ Vật Cho Em “ ; hay trên website Đông Dương Thời Báo bảo bức tượng “ Thương tiếc “ hình ảnh người lính ngồi ôm súng canh giữ Nghĩa trang Quân Đội và bài hát Kỷ Vật Cho Em là điềm báo trước sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam. Ngay cả chuyện một người lấy nguyên văn bài thơ phổ nhạc KVCE mà gắn cho một cái tên CN của một xác chết xa lạ nào đó là tác giả .Điều này công chúng yêu thơ, yêu nhạc Việt Nam không một ai tin được sự dối trá , đến mức độ trơ trẻn như thế - trừ một vài người thiếu hiẻu biết. Sự thật vẫn là sự thật ,và Linh Phương vẫn là Linh Phương, 30 năm – 50 năm hay mãi mãi về sau không thể nào thay đổi được .

Tháng 8 năm 1978 , tôi được trả tự do sau ngày tập trung cải tạo từ 01.05.1975 . Gia đình tôi cứ tưởng tôi đã chết trong cuộc biến động lớn lao của đất nước . Má tôi thực sự biết được tôi còn sống nhờ một sự tình cờ của một người đi buôn đường dài từ Sài Gòn xuống Cà Mau . Người này ở gần nhà tôi trên Sài Gòn ( lúc này gia đình má tôi đã bán nhà ở quận 8 Sài Gòn về Cà Mau sinh sống ). Má tôi nghĩ tôi đã chết, nhưng bà vẫn cố bấu víu hy vọng là tôi vẫn còn hiện diện trên cõi đời này. Bà nhờ người đi buôn đường dài đến ngôi nhà ngày xưa hỏi chủ nhà coi có nhận được thư từ nào của tôi gửi về đó không ? .
Thật là may mắn , người chủ nhà cho biết vừa nhận được một lá thư gửi về địa chỉ này , người chủ nhà ra thùng rác tìm lại lá thư . Lá thư đã mất nhưng bì thư vẫn còn, nên má tôi biết tôi còn sống và đang cải tạo . Bà tức tốc đến nhờ một người cậu ruột của má là Cộng Sản có chức sắc Tỉnh Hậu Giang ( bây giờ là TP. Cần Thơ ) bảo lãnh cho tôi . Cậu ruột của má lạnh lùng từ chối vì sợ ảnh hưởng đến sự nghiệp chính trị của mình , khi có liên hệ với Ngụy quân . Má tôi vừa khóc, vừa chạy tức tưởi đến nhà ông Sáu Khương ,một người bà con cũng là Cộng Sản có chức sắc nhưng không phải ruột thịt , nhờ ông giúp bảo lãnh tôi . Ông Sáu Khương liền viết thư cho người cháu của ông làm việc tại UNND nơi tôi cải tạo , can thiệp và trả tự do cho tôi .

Bước chân về Cà Mau , tận cùng của mảnh đất Việt Nam , tôi cảm thấy mình thật lạ lẫm với nơi này . Tôi cứ nhớ Sài Gòn, nhớ bạn bè , nhớ kỷ niệm nơi tôi mở mắt khóc cười- nơi tôi lớn lên làm người- nơi tôi cầm súng ra mặt trận như thế hệ thanh niên chúng tôi lúc bấy giờ tại miền Nam Việt Nam .Nơi tôi biết thương yêu và yêu bằng một tình yêu thực sự là tình yêu chứ không phải ngộ nhận hay mơ hồ hoặc hình như là tình yêu .Tôi da diết nhớ Sài Gòn, nhớ con đường Lê Văn Duyệt nơi có bóng hình một người con gái mà tôi thương yêu . Tôi muốn về Sài Gòn tìm người xưa, nhưng thời điểm đó rất khó khăn đối với một người cải tạo mới được trả tự do bằng “ Lệnh tạm tha “. Rât khó khăn vì thời kỳ bao cấp, muốn từ Tỉnh về Sài Gòn phải sắp hàng ngồi
ròng rã ngoài trời mưa nắng mấy ngày chưa chắc đã mua được một tấm vé xe . Rất khó khăn vì lúc ấy tôi không có việc làm, không có tiền để mua vé xe huống chi là ăn uống , chỗ ở khi trên đó tôi không còn ai thân thuộc- bạn bè thì thất lạc mỗi người một nơi chưa biết được tin nhau sau 1975.

Năm 1979, bà mợ của má tôi( em dâu của bà ngoại ) –là một thành viên trong Ban quản lý HTX.MB đưa tôi vào làm kế toán viên cho HTX. Tôi làm kế toán phụ cho kế toán trưởng Trần Tố Linh , sau đó tôi được cữ đi học khóa đào tạo kế toán của Ty Thương Nghiệp .Ở trường nghiệp vụ kế toán , tôi làm tổ trưởng một tổ chỉ có tôi và An là nam , còn lại toàn nữ. Tôi nhớ những tổ viên nữ là Diệu Hằng , Như Mai , Tố Anh, Đái Thị Hồng Vân , Tú Hương và hai người con gái tôi không còn nhớ tên . Có hai giảng viên dạy chúng tôi là thầy Hùng và một cô giáo trẻ , xinh đẹp tên Đổ . Ở một tổ quá nhiều nữ , nên tôi và An giống như “ guom lạc giữa rừng hoa “ thường được những bông hoa đẹp chiếu cố nhiều hơn . Nhất là tôi , vì An nhỏ tuổi lại lóc chóc . Đêm nào tôi với Diệu Hằng cũng ngồi nói chuyện tới khuya ngoài sân trường nghiệp vụ , nói chuyện bâng quơ chứ thực ra cũng không có gì . Nếu không nói chuyện với Diệu Hằng thì tôi lên phòng cô Đỗ nói chuyện với cô về miền Bắc quê hương Hà Nam Ninh xa lắc xa lơ của cô. Trong những bông hồng trong tổ , có ba người đẹp nhất đều người Tàu :là Hồng Vân , Tố Anh và Diệu Hằng- tôi thường gọi đùa :ba bông hồng Trung Hoa. Giữa khóa học Hồng Vân – Tố Anh xuất cảnh theo diện người Hoa .
Ra trường , về lại HTX.MB được một thời gian ngắn thì tôi lên làm Kế Toán Trưởng thay thế Trần Tố Linh ( cũng là bông hồng Trung Hoa )xuất cảnh sang Mỹ .Lúc đó , giữa Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc , nên những người Hoa bị nhà nước bắt buộc rời khỏi Viêt Nam . Diệu Hằng cũng là người Hoa , nên đành phải ra đi . Trước ngày Diệu Hằng xuất cảnh, Hằng tìm gặp tôi từ giã .Tôi chỉ biết chúc Diệu Hằng được bình an nơi xứ lạ quê người . Đôi mắt Diệu Hằng đỏ hoe nhìn tôi một hồi lâu rồi lặng lẽ chạy đi .Từ đó, tôi không còn tin tức của ba bông hồng Trung Hoa xinh đẹp nữa – họ như những cánh chim trời bay đi không bao giờ trở lại .

( còn nữa )

Sunday, September 26, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 25 -


- Kỳ 25 -


Có những mối tình bắt nguồn từ cuộc chiến tranh- đi trong lửa đạn mà mấy chục năm khi chiến tranh kết thúc , vẫn còn đau đáu sự chia ly, mất mát , khổ đau và hạnh phúc mà thế hệ chúng tôi phải chấp nhận . Cũng như lời hứa một đám cưới của tôi với Thu Hồng đã vĩnh viễn nằm yên trên tờ thư , trên thiệp cưới đầy nước mắt của em . Tôi đã lạnh lùng viết cho em một lá thư với lời chúc em được hạnh phúc .Em buồn bã giận hờn cắt mái tóc dài chấm lưng , chỉ còn ngắn tới bờ vai để thầm nhủ với lòng mình quên đi… quên đi…người đàn ông mà bảy năm trời em thương nhớ , chờ mong .
Ngày em gửi thiệp cưới cho tôi , là em muốn chìa bàn tay của em cho tôi nắm lấy để cùng em vượt qua ngưỡng cửa định mệnh cuộc đời . Nhưng tôi đã vô tình không nắm lấy bàn tay đầy hy vọng của em giao phó cho tôi . Nếu như ngày đó tôi nắm chặt bàn tay em thì tôi và em sẽ không có ngần ấy thời gian hơn 30 năm “ sông dài cá lội biệt tăm “. Để ngày nay sợi khói tình dài đăng đẳng nửa vòng trái đất- em một đầu , tôi một đầu dụi hoài, dụi mãi , dụi miết cũng không tan . Vĩnh viễn không tan… không tan…


“ …Ba mươi năm lận đận giữa cuộc đời
Đời dâu bể anh càng thêm đau khổ
Ba mươi năm tình yêu là sợi khói
Anh dụi hoài- dụi mãi không tan “


Linh Phương và Thu Hồng

Dòng đời tàn nhẫn đã xô giạt em và tôi mỗi người một ngã , nửa đời khoắc khoải khôn nguôi . Tôi đã nợ em một mối tình mà tôi cứ day dứt không thể nào trả được, và chỉ mong bù đắp lại những gì tôi có thể bù đắp được cho em .Cuộc đời của em có một tình yêu duy nhất – đó là tình yêu em trao cho tôi thời xuân sắc. Thời Linh Phương nổi tiếng với bài thơ phổ nhạc Kỷ Vật Cho Em – một Linh Phương ngang tàng , ngạo mạn đã đi vào trái tim con gái của em. Người con gái xinh đẹp , kiêu hãnh biết bao chàng trai đeo đuổi , nhưng không ai lọt vào đôi mắt biếc của Tiểu Thư Trần Thị . Vẻ đẹp đài các, trâm anh của em -con gái Bắc Kỳ khiến tôi yêu em say đắm .
Thu Hồng yêu tôi bằng mối tình đầu , và mối tình da diết ấy em mang theo trong lòng 30 năm chúng tôi bặt vô âm tín .Thư từ tôi gửi em , tập thơ chép tay tôi tặng em – mấy chục năm trời em vẫn giữ, vì em coi đó là kỷ vật của cuộc đời em . Chúng tôi xa nhau, bất cứ với lý do gì, chúng tôi cũng không hề oán trách một ai . Chúng tôi nghĩ chẳng qua là định mệnh mà chúng tôi phải gánh chịu , dù khổ đau hay hạnh phúc – nước mắt hay nụ cười .

Năm 1992 , Trần Công Thành có xuống Cà Mau kiếm tôi, nhưng định mệnh không cho chúng tôi trùng phùng vào thời điểm đó, nên tôi và Trần Công Thành không gặp được nhau . Nếu như ngày đó tôi và Thành gặp nhau , thì có lẽ tôi và Thu Hồng sẽ không phải chịu thời gian xa cách cho đến ngày …Cuộc đời tôi cũng sẽ khác hơn ngày hôm nay , không phải là ngày hôm nay .





Ngày 9 tháng 10 năm 2009 , chúng tôi được biết tin nhau sau nấy mươi năm biền biệt mỗi người mỗi ngã . Thu Hồng tìm được tôi qua bằng những cái gõ trên Google kiếm : “ Nhà thơ Linh Phương tác giả Kỷ Vật Cho Em “ , trong một tình cờ như một định mệnh. Một bi kịch cuộc đời của chúng tôi còn có hậu trong phần đời còn lại của tôi và em . Chúng tôi đã mừng chảy nước mắt , cứ ngỡ chiêm bao chứ không là sự thật . Chúng tôi không ngờ có một ngày hội ngộ khi đầu tôi chớm bạc sau bao năm lận đận trong cuộc đời – cuộc sống và cuộc tình . Đầu em cũng lưa thưa vài cọng tóc muối tiêu như màu của khói tình vương mãi trong tim. Chúng tôi hội ngộ lúc tôi và em mỗi người có một cuộc đời riêng – cuộc sống riêng - ở cách xa nhau nghìn trùng .
Tôi và Thu Hồng giống như Lý Sanh và Dương Y đời nhà Châu, gặp nhau rồi phải cách biệt bao năm trời , đau đáu với những câu thơ :




Nhân đạo Tương giang thâm
Vị để tương tư bạn
Giang thâm chung hữu để
Tương tư vô biên ngạn
Quân tại Tương giang đầu
Thiếo tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy

( Người bảo sông Tương sâu
Chưa bằng lòng thương nhớ
Sông sâu còn có đáy
Lòng nhớ lại vô bờ
Chàng ở đầu sông Tương
Thiếp ở cuối sông ương
Nhớ nhau mà không thấy
Cùng uống nước sông Tương )


Thời gian trôi qua như cái chớp mắt. Chao ôi ! Cái chớp mắt mà dài đăng đẵng mấy chục năm trời . Mấy chục năm em chỉ giữ một mối tình thơ dại cùng tôi – trong khi mấy chục năm dâu bể , tôi đã có nhiều cành hồng đi vào thế giới thơ của mình. Nhưng mối tình thơ dại ấy , tôi không bao giờ quên ; tôi không được phép quên , vì tôi nợ em một mối tình lớn lao mà kiếp này tôi chưa trả được . Tấm lòng Thu Hồng rộng mở như em thường nói: “ Yêu một nhà thơ em luôn nghĩ rằng hãy để cho nhà thơ có tâm hồn được tự do bay bổng trong sáng tác , như thế mới có những cảm xúc thăng hoa . Có những cảm xúc thăng hoa mới có những bài thơ hay . Nên em không bao giờ ích kỷ, trói buộc tâm hồn nhà thơ chỉ viết cho một mình mình” .
Tôi nợ em một mối tình vì tôi là người đàn ông không chung thủy với một mối tình. Em đã chịu thiệt thòi hết thời con gái để tôn thờ mối tình đấy trắc trở , gian truân.Tôi trân quý em – một hồng nhan tri kỷ hơn 30 năm dài cất giữ tình yêu tôi trong trái tim em .Chúng tôi xa nhau nửa đời người, nhưng vĩnh viễn ở Thu Hồng , ở tôi :



Hôm qua
người cũ chưa là…
Hôm nay
người cũ chưa là …
người xưa


Nói gặp lại nhau , thực sự chúng tôi chỉ mới liên lạc được với nhau, kể cho nhau nghe những gì với ngần ấy tháng năm .Ngần ấy tháng năm vì sao bặt tin , ngần ấy tháng năm mỗi người mỗi ngã .


Ly loạn- em- ta-đều lưu lạc
Mỗi người- mỗi hướng- mỗi đời riêng
Ta mãi ở cùng trời- cuối đất
Ôm nỗi đau cũng chỉ một mình


Hiểu ra , thì …chỉ còn nước mắt , chỉ biết nhoi nhói trong lòng khi nghĩ về ngày xửa , ngày xưa .


Giọt lệ tưởng muôn ngàn hạt ngọc
Dẫu tháng năm chung sống bên chồng
Ai đã cho đời em hạnh phúc
Để hồn ta lặng lẽ chờ mong



Như một sự trở về, “ anh trở về dang dở đời em “ như câu thơ trong bản nhạc Kỷ Vật Cho Em. Cuộc đời của anh và của em đã dang dở, dang dở hết kiếp này rồi Thu Hồng ơi !


( còn nữa )

Wednesday, September 22, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 24 -


-Kỳ 24 -


Ngày 27 tháng 1 năm 1973, hiệp định Paris được ký kết ( có hiệu lực ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam bắt đầu từ 8 giờ sáng ngày 28/01/1973 ). Chúng tôi, vui mừng đến chảy nước mắt. Sau bao năm chiến tranh rồi ra cũng có ngày kết thúc, ngày quê hương không còn đạn bom, không còn những xác chết của anh em bên này hay bên kia chiến tuyến. Ngày anh em chúng tôi nhìn nhau thân thiện, không còn hận thù sau mấy mươi năm loạn lạc. Nhưng rồi…tất cả chúng tôi đều hiểu rằng đó chỉ là giấc mơ- giấc mơ cháy bỏng của một dân tộc đã không bao giờ trở thành hiện thực. Chiến tranh lại tiếp tục, những mối tình nghiệt ngã thời đạn bom lại không chấm dứt theo cuộc chiến triền miên.
Tôi là một quân nhân , một văn nghệ sĩ , với tâm hồn ướt át tình cảm nên không khỏi đa mang trong cuộc đời mình những mối tình thời khói lửa điêu linh. Những mối tình đi qua, nhưng có một mối tình không bao giờ đi qua trong cuộc đời tôi . Đó là mối tình tôi trân trọng thương yêu, đau khổ khi chia cắt - cũng là mối tình đẹp, nhiều hệ lụy nhất sau cuộc chiến tranh Việt Nam . Đó là tình yêu giữa tôi và Thu Hồng .
Thu Hồng là người con gái duy nhất mà tôi tặng 60 bài thơ do chính tôi chép tay, kết chỉ màu đỏ thành tập. Thu Hồng ví tôi như Phượng Hoàng trong lồng sắt, cái lồng sắt vĩ đại trên quê hương đầy bom đạn và xác chết đã nhốt Phượng Hoàng của em . Và tôi gọi Thu Hồng là hồng nhan tri kỷ một đời thương yêu của tôi .


Ngày xưa , Thu Hồng và tôi lần đầu tiên gặp nhau , lúc Thành bị bệnh em vào xin phép đơn vị cho Thành nghỉ . Khi ấy tôi đang ngồi bên thành cửa sổ phòng Chiến Tranh Chính Trị, mặc quân phục rằn ri TQLC , trên túi áo trận mang chữ Press với bảng tên Linh Phương .Thấy tôi rất xấc láo , ngạo nghễ , giọng điệu bất cần đời , Thu Hồng biết rằng chính tôi là người em muốn tìm gặp, và tôi cũng biết em chính là người đi vào trái tim ngạo mạn của tôi. Em cũng nổi máu kiêu kỳ của con gái Bắc nên chủ động nói chuyện cùng tôi và Thiếu Tá Danh . Em trêu chọc tôi đủ thứ, tôi chỉ biết cười cười . Thực ra, Thu Hồng biết tôi một phần qua Trần Công Thành ( em trai Thu Hồng ) thường đem những bài thơ tôi viết về nhà cho em.





Tôi và Thành chơi rất thân, có khi hai anh em nằm chung trên một chiếc giường sắt cá nhân sau phòng Chiến Tranh Chính Trị .Thành thường hay lấy thơ của tôi phổ thành ca khúc . Tôi nhớ , lúc đó Thành đã phổ thơ tôi thành một tập ca khúc mang chủ đề “ Một giờ cho Việt Nam “ gồm có những bài thơ nói về chiến tranh Việt Nam, chủ yếu là thời điểm 1972 .


“ Con qua sông Thạch Hãn
Lệ rưng rưng hai hàng
Con qua sông Thạch Hãn
Cờ chiến thắng cờ tang … “

Hay :

…” Con bỏ vùng Quảng Trị
Chạy về ngõ Trường Sơn
Chào anh em miền Bắc
Về giải phóng miền Nam…”

Hoặc :

“ Con xuôi về Komtum đất đỏ
Đạn lên nòng chờ bóng chiến xa
Mẹ ngàn năm sầu đưa mắt ngó
Bạn bè con mở hội trăm hoa

Con xuôi về Komtum đất đỏ
Thăm đường xưa mìn bẫy hầm chông
Thăm vợ hiền bồng con đứng đó
Suốt một đời ôm trọn nhớ mong …

Rồi :

“… Mời anh em về đây đốt lửa
Dân hai miền tập họp dựng cờ …”


Tôi nghĩ những bài thơ của tôi lúc bấy giờ đầy tính nhân văn và nhân bản, không hận thù, không sắt máu mà đầy tình người .Cái tình người mà tôi đánh đổi bằng những tháng năm lưu đày khi tuổi trẻ ở thế hệ chúng tôi lên đường cầm súng ra mặt trận .

Hôm Thành đem tập thơ viết tay, được kết bằng những sợi chỉ màu đỏ về choThu Hồng, Thành nói :
“ - Ông Phương biểu tôi đưa cho bà cái này, nhưng trong đó có mấy bài thơ cho bà thôi. Còn thì ông đổi tên nhân vật lại , đừng có mơ mộng quá là chết đó nghe” . Đó là 60 bài thơ đầu tiên em nhận được, trong ấy có bài “ Tình khúc cho Trần Thị Thu Hồng “


Xưa kia ta ở dưới trần
Thấy em tim nở đầy bông mất rồi
Bất ngờ ôi thật bất ngờ
Tiểu thư về nẻo mịt mờ khói sương
Xin người một chút hoài hương
Mà trong buổi sáng ta hôn môi nồng
Này em những giọt mưa hồng
Nghe như mùi đất còn thơm mùi tình
Cho em bày tỏ ngọn ngành
Thương yêu từ kiếp nào đành quên sao ?



Em linh cảm bài thơ đó tôi viết cho người khác, nhưng đề tên em. Nhưng đâu có hề gì , vì những giòng chữ đề tên Trần Thị Thu Hồng là chữ của Linh Phương ; mà thơ Linh Phương cũng đã thú nhận :


“… Này em chiên ngoan đạo
Mặt tươi tỉnh như hoa
Bởi em vốn thật thà
Còn ta ưa ba xạo

Bởi em vốn khờ khạo
Ta ma giáo đủ điều
Coi Phật Chúa nhẹ hều
Nên ta vô số tội … “


Em chấp nhận cái ba xạo của thi sĩ, và em muốn nâng niu những dòng thơ nào mà em cảm nhận được Linh Phương dành riêng cho em … “. Trong cuộc đời này chỉ có em là hiểu tôi nhất, không ai hiểu tôi bằng em”. Đó mới là hồng nhan tri kỷ thực sự trong cuộc đời Linh Phương .
Em nói những bài thơ lúc trai trẻ của tôi là những bài thơ hay nhất viết về em , cho em . Những bài thơ làm em “ chết “ cả cuộc đời .


“… Sân cát lạnh mồ hôi em ướt .
Mồ hôi thơm ủ lại mùi hương …”


Những bài thơ như lời thề nguyện cho một mối tình, như một lời dự cảm mà tôi và em phải chia cắt sau này .


“… Ta sẽ chết và ta thề nguyện
Cùng núi non, chim chóc, mặt trời
Cùng thần linh Đông, Tây, Nam, Bắc
Hồn thiêng ta phảng phất bên người…”


Tôi nhớ trong những lá thư gửi cho em , tôi mơ ước sẽ dành dụm tiền để có một ngày trở về cưới em, ngày tôi với em thành vợ , thành chồng sống bên nhau như chim liền cánh , cây liền cành .Tôi trân quý tình yêu đầu đời của em đối với tôi, một người con gái đã thương yêu tôi. Tưởng đâu không bao giờ có ngày ly tan, tưởng đâu những gì tôi và em mơ ước sẽ trở thành hiện thực trong một vài năm .
. Trong một đoạn nhật ký em viết ngày 26 tháng 5 năm 1974 với những dòng ngắn ngủi khi em không nhận được một lá thư nào của tôi gửi em :

Thưa ông !
Tôi thú thật rằng tôi đã chờ đợi thư ông, tôi ghiền đọc thư ông ghê lắm, ông giận tôi chăng ? Hay có thể ông đã rời xa nơi khác mà vĩnh viễn không bao giờ ta có thể gặp lại.
Hãy viết thư cho tôi ông nhé .
Thu Hồng .

Lúc đó, cả hai chúng tôi đều không hiểu tại sao lại bặt tin nhau . Em hờn trách tôi quên em , không gửi thư cho em ; còn tôi lại hiểu lầm ngược lại .Cứ thế mà chúng tôi bặt vô âm tín – cứ thế mà người chân trời , người góc biển không hay .
Thời gian gặp nhau của tôi và em quá ngắn ngủi, tôi phải tiếp tục ra đi cho cuộc hành trình thăm thẳm vô định của mình . Tôi là người bị lưu đày trên chính quê hương bi thảm với bản án mà tuổi trẻ chúng tôi thời ấy phải chen vai gánh chịu . Lần cuối, tôi đã viết trang thơ tình nhỏ xíu trên tờ giấy tập vở học sinh ,với dòng chữ nhỏ xíu cho em :

“… Xe đày ải chở ta
Đến chỗ hẹn với người
Chỗ hẹn mà không hẹn
Ta thoáng chút ngậm ngùi …”.


Chuyến ra đi đó dài đăng đẳng mấy chục năm .Thời gian như mây bay, như gió thổi , như nước chảy qua cầu – nhưng tình yêu chúng tôi mãi mãi vẫn còn ở lại . Dù những ngày gặp nhau của tôi và em ngắn ngủi , nhưng những ngày gặp nhau ngắn ngủi ấy miên viễn trong cuộc đời chúng tôi. Chúng tôi đã đi tới tận cùng của sự chia ly ,thương nhớ một mối tình thanh xuân , qua bao thăng trầm của cuộc sống , bao bể dâu của cuộc đời . Nhưng cuối cùng có một điều rất thực trong trái tim mỗi người – trong trái tim của tôi và em như chưa hề có cuộc chia ly . Vâng ! Không hề có cuộc chia ly đau đớn đến cuối đời người như bao cuộc chia ly khác trong cuộc chiến Việt Nam.


( còn nữa )

Monday, September 20, 2010

Hồi Ký Linh Phương - kỳ 23


Kỳ 23 -


Trong cuốn Hồi Ký của tôi , tất nhiên sẽ không thể thiếu một hồng nhan tri kỷ hiện tại đã cùng tôi chia sẻ - cùng tôi "đi " trong mưa bão gian nan đầy trời . Năm tháng đó tôi không bao giờ quên, Dạ Hương đã viết cho tôi trên một website :
" Thành phố nơi tôi ở vẫn còn phủ trắng màu tuyết , vẫn còn những cơn mưa bão lạnh buốt ,nhưng không khí Tết đã rộn ràng ..... Nắng Xuân , gió Tết đang ngự trị nơi quê nhà , không biết những người còn ở lại đó biết có tìm thấy được mùa xuân ......

Tôi biết chuyện của anh , một người tôi kính mến , của một người cầm viết không tương lai và mất luôn cả quá khứ ! Anh tự thu mình nhỏ bé giữa giòng đời tàn nhẫn , trang trải lòng mình trên những vần gieo . Vần trắc trở nên đường anh đi nhiều sóng gió . Anh cố gieo vần bằng nhẹ nhàng mà đời vẫn chông chênh ...

Những bài thơ của anh có những ưu tư khắc khoải , và có cả cái tình cảm vui buồn , yêu hận của mỗi con người . Thế mà bọn họ lại sợ !!! Họ sợ những sự thật , sợ những ngòi bút sắc bén . Họ đã cô lập anh , đã dùng tất cả uy quyền để đối phó với anh , với một người mà cả lời đính chánh cũng không có cơ hội . Những bài thơ từ tim óc cúa anh bị cấm đăng cả trong nước và ngoài nước . Họ muốn tên anh phải bị chôn sống ! Nhưng họ lầm rồi ! Họ bịt miệng được anh , nhưng họ không bịt mắt được mọi người , không bịt mắt được công lý ! Tuổi trẻ VN, đã sinh ra và lớn lên trong chế độ , hôm nay đã biết lên tiếng cho chính nghĩa . Sao họ không ý thức được là mầm mống tuyệt vọng đã có trong lòng mỗi con nguời , đâu chỉ riêng mình anh .

Anh là con người có nguyên tắc , anh không bao giờ làm ngơ trước tình cảm của bạn bè . Anh bặt tin , tôi vẫn nghĩ anh bận rộn cho mấy ngày Tết . Nhưng sinh nhật anh , tôi chúc mừng , anh vẫn im lặng .... Việc này chưa hề xảy ra từ khi tôi quen anh .Hôm nay thì tôi đọc được 2 bài thơ của 2 người đem về đây . Anh tặng thơ cho tôi trong dịp Tết mà đăng ở nơi khác , tôi xót xa vô cùng ! Chuyện anh đã bị cấm đoán là sự thật hiển nhiên rồi !

Giờ này không biết anh làm gì , ở đâu ? Anh có chịu được những hành hạ từ tinh thần đến thân xác của họ không ? Sức cúa anh còn chịu được bao lâu những dâu bể của cuộc đời đây .

Tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho anh . Cầu xin tất cả an lành và may mắn , xin cho anh thật nhiều nghị lực . Cho dù thế nào đi nữa thì những người bạn của anh bên này vẫn luôn hướng về anh , vẫn mong tin anh , vẫn mong có ngày anh xuất hiện trở lại .
Tôi không biết những lời này của tôi có ảnh hưởng đến anh hay không? Nhưng tôi phải nói , vì tôi đang sống ở xứ sở tự do , cái quyền tự do ngôn luận và tính mạng con người được đưa lên hàng đầu ! Xin lỗi anh , nếu vì tôi mà anh bị hành hạ thêm !!!!!

Và anh ạ , tôi sẽ không để tên của anh biến mất như ý muốn cúa họ . Tôi sẽ tìm khắp nơi để đem thơ anh về đây… anh Linh Phương nhé ! …"
Tôi vô cùng xúc động với những gì Dạ Hương đối với tôi trong lúc sóng gió đổ ụp xuống cuộc đời người làm thơ . Cũng như em đã chia sẻ , giúp đỡ tôi trong những ngày tôi nằm bệnh viện phải giải phẫu . Tôi thực sự cô độc đến khủng khiếp , đau khổ đến khủng khiếp khi bị cuộc đời vùi dập không thương tiếc .

Ân tình của Dạ Hương tôi nhớ mãi, tôi sẽ không bao giờ quên sự thương yêu của em dành cho tôi ..Trong cuộc đời tôi có hai người hồng nhan tri kỷ để tôi thương yêu , đó là Trần Thị Thu Hồng- hồng nhan tri kỷ của quá khứ và Dạ Hương – hồng nhan tri kỷ của hiện tại . Mỗi người đều có một vị trí riêng trong lòng tôi, cho dù mai đây vì lẽ gì đó, có thể không được như ý nguyện của mỗi người chúng tôi .


Chạy trốn nỗi buồn - nỗi buồn hoá thành thiên thạch
Rơi xuống lòng anh hằng hà sa số vết thương
Này ngực gầy bao năm trời hứng chịu bão giông
Này đôi chân bảy dặm bao lần anh vấp ngã
Đôi chân ngày xưa thách thức cùng sỏi đá
Sỏi đá phải mềm cho chân cứng bước đi
Giấc mộng đời người chưa hội ngộ đã chia ly
Trên con đường tình đầy gian nan trắc trở
Hạt hạnh phúc nẩy mầm xanh rồi vụn vỡ
Để triệu triệu nơtron kết thành một trái tim đau
Trong mắt anh giờ lại ẩn hiện nỗi lo âu
Khi cơm áo chết khô trên mâm rượu nhạt


Không biết rồi tôi có hoàn thành được cuốn Hồi Ký của mình lúc xuôi tay nhắm mắt như tâm niệm của tôi không ? Như các bạn đã biết Hồi Ký tôi viết được 21 kỳ phải tạm dừng lại .Bởi có nhiều chuyện không như ý muốn, như những gì đã nghĩ . Chung quanh còn nhiều áp lực cứ dồn xuống đôi vai gầy yếu của tôi, lúc nào tôi cũng sống trong căng thẳng, lo âu. Sức khoẻ cũng không được tốt như tháng năm về trước , nhiều khi tôi cảm thấy mình chắc không còn sống bao lâu nữa để được yêu cuộc đời này, con người này .
Thôi thì tùy định mệnh , cho sống được bao nhiêu thì sống bấy nhiêu- viết được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu .Vì tâm niệm như thế, nên tôi lại tiếp tục viết cho cuốn Hồi Ký của mình. Và tôi nhất định phải sống để chờ để đợi – chỉ chết khi tôi đã được hội ngộ cùng hồng nhan tri kỷ của tôi
.

( còn nữa )

Thursday, September 16, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 22 -


- Kỳ 22 -


Tháng 5 năm 1975 , tôi tập trung cải tạo như tất cả số anh em khác ở miền nam Việt Nam . Những năm tháng tù tội, tôi không được thư từ của bất cứ người thân nào . Tôi gửi cho Thu Hồng nhiều lá thư, không hiểu em có nhận được hay không mà không lá thư nào hồi âm cho tôi .Tôi thèm được nhận một lá thư để đọc, thèm được nhận một món quà nhỏ của người thân thôi , đó cũng là niềm vui lớn lao của một người tù . Đôi lúc , tôi cũng thấy tủi thân tự hỏi sao định mệnh đối với mình nghiệt ngã như vậy ? Ai cũng có người thân gửi thư an ủi, chia sẻ - chỉ trừ vài anh em mồ côi . Còn tôi , tôi vẫn còn những người thân trong cuộc đời lận đận của mình mà vẫn giống như kẻ mồ côi ..Nhiều đêm không ngủ được nhớ đến Thu Hồng, tôi tự hỏi với tôi rằng tại sao em không trả lời thư của tôi, dù là một lá thư chỉ vỏn vẹn vài chữ thôi, cũng đủ cho tôi sung sướng đến ngần nào . Tôi biết em yêu tôi, nhưng tôi không hiểu nguyên nhân nào tôi không nhận được thư em suốt ngần ấy năm trong trại giam . Một câu hỏi mà suốt hơn 30 năm trời , tôi vẫn không được giải đáp . Cho đến một ngày…

Chúng tôi bị tập trung ngoài sân trại , sắp thành nhiều hàng . Tất cả hành trang được mở tung ra để kiểm soát . Chai lọ thủy tinh , vật bén nhọn , giấy bút đều bị tịch thu Trong túi xách tôi chỉ có 2 bộ quần áo cũ, một ống kem đánh răng , một bàn chải, nên đi tới đâu cũng nhẹ tênh . Ban quản giáo trại giam phân loại chúng tôi ra nhiều thành phần . Tôi vào phòng 13 – phòng “ có nợ máu với nhân dân “ và sẽ chờ ngày phán xét . Trong phòng chia thành nhiều tổ ; tổ tôi gồm : Thiếu Tá Nhi, Trung úy Trần Chánh Tùy, Thiếu Úy Nguyễn Đình Long , tôi và ông già Chuẩn úy Hưng . Trung úy Tùy làm trưởng phòng điều hành sinh hoạt .
Mỗi ngày chúng tôi được 15 phút ra ngoài sân phơi nắng , tắm rửa , giặt giũ quần áo và đập ruồi. Đêm thì phải đập muỗi , bắt rệp, nếu không có hoặc có ít thì tối hôm sau đứng trên một tấm bao bố, tự phê , kiểm điểm . Một con ruồi bằng một con muỗi; 5 con muỗi hoặc ruồi tương đương với một con rệp . Bắt được một con chuột quy ra 100 con muỗi . Đêm nào , chúng tôi cũng cởi áo ở trần , áo để trước mặt để muỗi đánh mùi người mà bay vòng vòng quanh áo . Ở trần , mặc quần đùi để muỗi bu đến chích , cứ thế mà dùng hai tay đập muỗi bôm bốp . Tôi đập muỗi dở ẹt, ngày nào cũng bị đứng lên bao bố tự phê .
Những ngày sau, tôi chợt nẩy ra một trò ma giáo để không còn bị kiểm điểm chuyện nộp ruồi muỗi nữa . Nguyên tôi nằm ngủ kế bên Trần Chánh Tùy ( tất cả phòng viên đều nộp ruồi muỗi cho Trưởng phòng ), những bọc ni lon ruồi muỗi thì Trưởng phòng để kế bên tôi. Tôi đập muỗi tới khuya , chờ mọi người đều ngủ hết , tôi mới lên chỗ nằm của mình . Tôi thò tay , mở bọc ni lon “ chôm “ một nhúm muỗi bỏ vào bọc ni lon của mình . Từ đó, tôi không còn trình diễn cái màn đêm nào cũng đứng bao bố để tự phê .
Mỗi chiều thứ bảy đối với chúng tôi là những giờ khắc nghẹt thở sau buổi cơm chiều . Môi chiều thứ bảy , tuần nào cũng như tuần nấy đều có nhóm bộ đội lăm lăm súng AK. 47-50 , B. 40 chỉa vào phòng . Một cán bộ cầm tờ giấy đọc tên một vài người trong chúng tôi, đem theo hành trang ra đi mà không bao giờ chúng tôi còn gặp lại họ nữa . Tôi nhớ một lần , Chín Thái Cán bộ quản giáo chỉ tay vào mặt tôi nói :” Tao biết mày từ đất liền , mày làm tâm lý chiến cho thằng Phạm Duy phổ nhạc chống phá cách mạng “ . Tôi im lặng .
Một hôm , tôi bị kêu lên văn phòng ban quản giáo trại khai lý lịch . Tôi bước vô phòng , đứng trước bàn của cán bộ quản giáo tên Năm Vang . Không hiểu sao ông ta quăng cặp còng số 8 vào mặt tôi ( tôi nghĩ chẳng lẽ mặt mình dễ ghét đến nỗi thây là muốn đập rồi ? ). Tôi né sang một bên, cặp còng văng ra ngoài cửa sổ . Ông cán bộ tức xanh mặt, chụp lấy khúc gỗ đập vào đầu tôi như đập đầu cá lóc .Miệng ông ta quát tháo : “ Mày đừng khinh tụi tao là lũ chăn trâu “ . Lúc này thì tôi hiểu ra… chỉ là cái mặc cảm của một con người với một con người . Tôi không giận vị cán bộ này , mà trong lòng tôi cứ thấy tội nghiệp cho ông ta. Sau đó, tôi bị còng tréo hai tay ra sau lưng, trở về phòng và mọi người trong phòng không ai được tiếp xúc với tôi. Tôi đi vệ sinh thì có một người ban quản giáo cắt đặt “ chăm sóc “ . Đúng một tháng , tôi được tháo còng , hai cánh tay tôi gần như muốn liệt hẳn .
Cuối cùng, tôi được chuyển sang phòng lao động, sáng theo ban quản giáo đi lên núi , dùng xà beng nạy những tảng đá to đẩy xuống chân núi. Xong xuống núi , dùng búa nhỏ cán bằng mây dẽo để đập thành những viên đá 4x6 chất đủ 1 mét khối . Hôm nào tôi cũng nhờ anh em phụ tôi mới đủ chỉ tiêu do ban quản giáo giao trại viên. Đôi kiếng cận của tôi bị miễng đá râm chi chít trên mặt kiếng , hai bàn tay tôi rịn máu rồi chai sần theo ngày tháng lao động . Một thời gian, tôi được đi nhổ cỏ quanh thị trấn.Tôi thích nhất là nhổ cỏ những con đường quanh thị trấn. Vì những con đường này có những loại rau dại như rau sam , rau rền . Vừa nhổ cỏ, vừa nhổ rau sam, rau rền chờ lúc nghỉ trưa , luộc với muối làm canh để ăn cơm với muối .
Tôi nhớ lần nhổ cỏ ở một con đường gần trại gia binh của anh em lính Địa Phương Quân cũ, có một chú bé len lén dúi vào tay tôi chai mắm nêm và một bọc ớt, rồi nói : “ Má cháu gửi chú “ . Tôi hỏi : “ Má cháu ở đâu ? “ , cậu bé chỉ tay vô trại gia binh nói : “ Má cháu ở trại gia binh , ba cháu là lính Địa Phương quân chết rồi “ . Xong , cậu bé chạy vụt đi .Mấy chục năm qua, tôi vẫn nhớ cậu bé đó, không hiểu người phụ nữ kia và cậu bé ra sao , có được sống một đời sống ổn định hay trôi giạt nơi nào trên quê hương Việt Nam . Người tôi mang ơn mà tôi chưa hề biết mặt, một người vợ lính trong muôn ngàn người vợ lính khác, trong muôn ngàn cảnh đời của một dân tộc triền miên hận thù và chém giết .

Tháng 8 năm 1978 , tôi được trả tự do; tôi trở về với đời sống của một tiện dân.Cuộc đời tôi trải qua bao khúc quanh với nhiều biến cố , nhiều thăng trầm trong cuộc sống ngày đó và bây giờ.Nhưng dù sao thì tôi cũng thật hạnh phúc - hạnh phúc là tôi được sống, được làm thơ, được trải lòng mình nhờ gió thổi bay đi…bay đi … vào cõi nào chỉ có người với người còn biết thương nhau . Thôi thì, những người yêu mến Linh Phương , cũng như những người Linh Phương yêu mến ở cõi nhân gian này, hãy rộng lòng tha thứ nếu tôi có lỗi và hãy sẻ chia cùng tôi phần đời còn lại chưa được bình yên này.


Sẻ chia nhé! Những nỗi đau
Nhưng không. Em đã đi đâu mất rồi
Một mình. Ờ! Một mình tôi
Vết thương là vốc máu người tặng cho
Vô đạo lắm đất trời ơi!
Nhẫn tâm chi với câu thơ xé lòng
“ Tôi yêu đất nước Việt Nam
Bốn ngàn năm trước Cha Rồng-Mẹ Tiên…”
Đau mà chẳng bật tiếng rên
Buồn mà chỉ biết mình ên ngậm ngùi
Trên môi cũng vẫn nụ cười
Như ngày xưa lúc đời chưa dập vùi

( Như ngày xưa lúc đời chưa dập vùi )

( còn nữa )

Monday, September 13, 2010

Hồi ký Linh Phương - kỳ 21 -


- Kỳ 21 -



Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông , Sài Gòn trong tôi là những kỷ niệm êm đềm của thời thanh niên cho đến khi cầm súng ra chiến trường . Sài Gòn trải qua bao phong ba bão táp, bao nhiêu cuộc biến động và có đổi thay vì lẽ gì đó , nhưng Sài Gòn vẫn mãi mãi đọng lại ký ức của tôi là một Sài Gòn đẹp và thơ mộng vô cùng . Một Sài Gòn không bao giờ quên được trong tôi, trong mọi người rằng :


Đặt khẽ lên môi anh nụ hôn
Em có nghe hơi thở Sài Gòn
Vương chút bụi khi ngồi Thanh Thế (*)
Và nắng Bến Thành thơm rất thơm

Nếu chán . Chúng ta vô rạp Rex
Chờ xem phim lãng mạn ái tình
Chiến tranh – súng đạn ! Thôi bỏ hết
Cơm – áo-gạo- tiền . Gác một bên

Hãy tạt qua ngang thương xá Tax
Loanh quanh đi cho trọn buổi chiều
Anh sẽ đưa em về Bà Chiểu
Ăn gỏi khô bò trước Lăng Ông

Đêm xuống. Ra công viên đứng ngắm
Phà Thủ Thiêm và Bến Bạch Đằng
Đợi khuya ghé phòng trà ca nhạc
Ngồi Queen-Bee hay Đêm Màu Hồng

Ta sẽ đi cùng khắp ngả đường
Vỉa hè - góc phố – của quê hương
Tìm trong ký ức thời thơ dại
Áo lụa em bay trắng giảng đường

Dẫu cách xa vời vợi muôn trùng
Bên trời Âu Mỹ– em buồn không ?
Sài Gòn vẫy gọi người xưa cũ
Sống nửa đời làm kiếp lưu vong

Anh ở Việt Nam ngày thương nhớ
Tóc bạc lâu rồi trong trại giam
Ngửa mặt khóc cười theo vận nước
Trời ơi ! Đã mấy chục năm ròng

( MỘT GÓC SÀI GÒN NGÀY CHƯA THẤT THỦ )





Nhớ những ngày ờ Sài Gòn , vào Thảo Cầm Viên đi chơi, chụp hình với H. với Nguyệt Minh, những cô bạn gái ở trường Lê Văn Duyệt. Trương Ngọc Sương làm cơ quan Mỹ , cô giáo Huỳnh Thanh Tú dạy học ở Long Khánh, Bạch Tuyết Bình Dương .Đó là những ngày vui nhất trong khoảnh khắc của cuộc đời, những khoảnh khắc thanh thản của tâm hồn hiếm hoi có được. Sau này, khoảng thập niên 90 khi tôi trở lại Sài Gòn mới biết H. bây giờ là vợ một người bạn. Còn Sương , còn Huỳnh Thanh Tú, còn Bạch Tuyết không biết trôi giạt nơi nào ? Còn sống hay đã chết, ở nước ngoài hay vẫn còn ở Việt Nam.?
Muốn tìm lại những người năm cũ , những vui buồn của thời chiến tranh loạn lạc , thời thanh niên của tôi, của tất cả thanh niên lúc bấy giờ chưa bao giờ được bình yên , trừ những người là “con ông cháu cha” của một tầng lớp ngồi trên. Muốn tìm , cũng không cách chi tìm được cái ngày hôm qua.Ngày mà thơ không vướng chút nào không khí của cuộc chiến triền miên. Ngày mà thơ là mộng là mơ .



Em ở Sài Gòn em bỏ học
Anh nhớ con đường – nhớ lá me
Cát sỏi nào bám chân ngà ngọc
Gió thổi tóc dài vạt áo che

( Phượng Sài Gòn )



Ngày ấy đối với thế hệ chúng tôi đã xa quá rồi, sau mấy mươi năm chiến tranh, lòng người phân hóa, dân tộc ly tan .Không ai đủ bình tĩnh để ngồi lại nói với nhau như anh em một nhà ,không ai đủ can đảm nhìn thấy sự thật để nhận ra những lỗi lầm trong quá khứ đau thương của một dân tộc .
Tôi rất ghét loại người chối bỏ quá khứ của mình, để tô son trét phấn một cách vụng về cho hiện tại .Tôi không chối bỏ mà còn hãnh diện với quá khứ của mình – dù quá khứ không cao sang trưởng giả, ngược lại là những năm tháng nhọc nhằn chuyện áo cơm .Tôi hãnh diện tôi có một người cha giang hồ bỏ miền Trung khô cằn nứt nẻ , bỏ nhà ra đi từ lúc lên chín, lên mười trôi dạt qua nhiều vùng đất của quê hương để kiếm sống . Một mình vui, một mình buồn, một mình mưu sinh cho đến ngày ông dừng chân giang hồ khi có một người phụ nữ cùng ông sống quãng đời hạnh phúc . Người phụ nữ đó là má tôi , người của chín dòng sông hiền hòa miền Tây Nam bộ .

Trong những người chối bỏ quá khứ đó -tôi đã gặp, đã hội ngộ sau hơn 30 năm xa cách kể từ ngày bài thơ Kỷ Vật Cho Em trở thành một ca khúc nổi tiếng lúc bấy giờ và còn sống mãi cho tới ngày nay. Gặp lại nhạc sĩ Phạm Duy cuối tháng 12 năm 2005 trong tư gia ông tại Sài Gòn, nói chuyện với ông, tôi chợt hiểu Phạm Duy ngày xưa đã chết . Phạm Duy bây giờ không phải là một Phạm Duy ngày nào : " Tôi yêu đất nước tôi từ khi mới ra đời…".Ông đã cố tình chối bỏ quá khứ của ông để bấu víu cái ân huệ mà người ta ban phát .Phạm Duy còn sống không là Phạm Duy tôi yêu mến, Phạm Duy của ngày tôi ngồi ăn cơm tại nhà ông, cư xá Chi Lăng nghe Julie hát. Tôi không dám trách ông , bởi mỗi người có một cách sống, có một sự chọn lựa cho riêng mình . Âu cũng là một thứ hạnh phúc ông tìm được lúc tuổi về già trong cuộc đời ông vậy . Tôi gánh chịu gần hết một đời dâu bể, tôi thường coi đó là định mệnh Bởi như thế tôi mới tự an ủi , vỗ về chính mình ,xoa dịu tâm hồn vốn nhiều đổ vỡ-một trái tim đa cảm vốn nhiều thương tích và những hình bóng đi qua cuộc đời tôi. Những hình bóng đi qua cuộc đời tôi là những bông hoa-là hương vị tình yêu tôi nếm trải . Đau khổ-đắng cay- buồn-vui-hạnh phúc - thất vọng…Tôi đã vượt qua tất cả , vượt qua chính mình như tôi đã vượt qua lửa đạn cuộc chiến tranh tàn khốc trên quê hương Việt Nam ,mà một thời tuổi trẻ của tôi tham dự.Tôi chứng kiến những biến động lớn lao của đất nước và tôi còn sống sót trở về ,không mang thương tích tật nguyền như bài thơ Kỷ Vật Cho Em tôi đã viết vào năm 1970.Nhưng trở về không có nghĩa là không trả giá cho sự trở về , tôi đã trả giá cho sự trở về của mình .



( còn nữa )